Hồng cầu là gì? Vai trò của hồng cầu đối với con người

0
Cập nhật lần cuối vào

Hồng cầu là một trong những thành phần quan trọng trong máu người, nó có tác dụng vận chuyển O2 đi khắp cơ thể và nhận lại CO2.

1. Hồng cầu là gì?

Máu là mô lỏng, được lưu thông trong hệ tuần hoàn của cơ thể. Máu gồm hai phần: Tế bào và huyết tương. Tế bào gồm hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu. Trong đó, hồng cầu là một thành phần quan trọng trong máu, chiếm hơn 99% trong các thành phần hữu hình của máu.

Hồng cầu là tế bào có hình đĩa hai mặt lõm, đường kính 7 – 8 mm, bề dày phần ngoại vi 2 – 2,5 mm

Dưới kính hiển vi quang học, hồng cầu được thấy có hình tròn; nên thời trước người ta cho rằng các tế bào đó hình cầu – đây là nguồn gốc tên gọi “hồng cầu”. Dưới kính hiển vi điện tử có thể thấy hồng cầu là tế bào có hình đĩa hai mặt lõm, đường kính 7 – 8 mm, bề dày phần ngoại vi 2 – 2,5 mm và phần trung tâm 1mm, thể tích trung bình 90 – 95 mm3. Hình dạng này giúp:

  • Tăng diện tích bề mặt tiếp xúc làm tăng khả năng khuếch tán khí thêm 30% so với hồng cầu cùng thể tích mà có dạng hình cầu.
  • Làm cho hồng cầu trở nên cực kỳ mềm dẻo, có thể đi qua các mao mạch hẹp mà không gây tổn thương mao mạch cũng như bản thân hồng cầu.
Hồng cầu chiếm hơn 99% trong các thành phần hữu hình của máu

Hồng cầu chiếm hơn 99% trong các thành phần hữu hình của máu

2. Hồng cầu được tạo ra như thế nào?

Đời sống trung bình của hồng cầu trong máu ngoại vi là 120 ngày. Theo thời gian, màng hồng cầu sẽ mất dần tính mềm dẻo và cuối cùng hồng cầu sẽ vỡ khi đi qua các mao mạch nhỏ của lách. Hemoglobin phóng thích ra từ hồng cầu vỡ sẽ bị thực bào bởi các đại thực bào cố định của gan, lách và tủy xương.

Bộ phận có nhiệm vụ tạo hồng cầu

Trong những tuần lễ đầu tiên của phôi, những tế bào hồng cầu có nhân được tạo ra trong túi noãn hoàng. Ba tháng giữa thai kì, gan (chủ yếu), lách và các hạch lympho là những cơ quan tạo hồng cầu (tạo hồng cầu có nhân). Từ những tháng cuối thai kì về sau, chỉ có tủy xương là nơi tạo hồng cầu.

Dưới 5 tuổi, hầu như tủy xương nào cũng tạo hồng cầu. Lớn lên, tủy các xương ống (trừ đoạn gần của xương cánh tay và xương chày) dần dần mỡ hóa và không sản xuất hồng cầu nữa. Sau tuổi 20, hồng cầu được tạo ra trong tủy các xương dẹt (như xương đốt sống, xương ức, xương sườn, xương vai, xương chậu, xương sọ). Càng lớn tuổi, chức năng sinh hồng cầu càng giảm.

Quá trình tạo hồng cầu

Các tế bào máu gốc đa năng là nguồn tạo ra tất cả các loại tế bào máu, bao gồm hồng cầu. Các tế bào đa năng sinh sôi, một số tế bào con sẽ tiếp tục làm nguồn tế bào gốc đa năng, còn đa số sẽ biệt hóa qua nhiều giai đoạn để thành các dòng hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu.

Chi tiết của các quá trình biệt hóa này được trình bày trong bài tế bào máu. Riêng về dòng hồng cầu, các giai đoạn phát triển sau tế bào gốc đa năng gồm:

  • CFU-S (chung cho hồng cầu và bạch cầu, trừ bạch cầu lympho)
  • CFU-B
  • CFU-E
  • Nguyên tiền hồng cầu (từ giai đoạn này trở đi là dòng hồng cầu đích danh)
  • Nguyên hồng cầu ưa bazơ (bắt màu khi nhuộm với chất kiềm), bắt đầu sự tích lũy hemoglobin.
  • Nguyên hồng cầu đa sắc
  • Nguyên hồng cầu ưa acid
  • Hồng cầu lưới (nhân hồng cầu đã bị cô đặc và trục ra khỏi tế bào từ các giai đoạn trước, hệ lưới nội mô cũng bị hấp thu, trong hồng cầu lưới chỉ còn sót một phần chưa tiêu hủy hết của các bào quan như bộ máy Golgi, ti thể v.v.)
  • Hồng cầu trưởng thành

Sự tăng trưởng và sinh sản của các tế bào gốc được điều khiển bởi các protein gọi là các chất cảm ứng tăng trưởng, mỗi chất có những đặc điểm riêng. Interleukin-3 là chất cảm ứng tăng trưởng tác động lên hầu hết các dòng tế bào máu, trong khi các chất cảm ứng tăng trưởng khác chỉ ảnh hưởng đến một vài loại tế bào mà thôi.

Các chất cảm ứng tăng trưởng không có vai trò trong sự biệt hóa các dòng tế bào máu. Đây là nhiệm vụ của loại protein khác – các chất cảm ứng biệt hóa.

Các chất cảm ứng (biệt hóa và tăng trưởng) được tạo ra bên ngoài tủy xương. Hồng cầu lưới xuyên mạch, rời tủy xương đi vào máu tuần hoàn. Tàn dư của các bào quan cũng tiêu hết trong vòng 1 đến 2 ngày.

3. Cấu tạo của hồng cầu

Hồng cầu không có nhân cũng như các bào quan. Thành phần chính của tế bào hồng cầu là hemoglobin, một protein giàu sắt tạo màu đỏ cho máu khi sắt liên kết với oxy. Mỗi phân tử hemoglobin bao gồm 4 nguyên tử sắt và mỗi nguyên tử sẽ liên kết với 1 phân tử oxy và 2 nguyên tử oxy. Khoảng 33% của 1 tế bào hồng cầu là hemoglobin, thường có mật độ 14 g/dL ở nữ giới và 15,5 g/dL ở nam giới.

Để tính toán số lượng hồng cầu trong máu, người ta sử dụng chỉ số RBC (Red Blood Cell) khi xét nghiệm. Giá trị chỉ số RBC thường thấy nằm trong khoảng từ 4,2 – 5,9 triệu tế bào/cm³. Giá trị chuẩn của chỉ số RBC thay đổi tùy theo đối tượng được xét nghiệm:

  • Ở nam giới: 4.5 – 6.5 M/µl.
  • Ở nữ giới: 3.9 – 5.6 M/µl
  • Ở trẻ sơ sinh: khoảng 3.8 M/µl

Số lượng hồng cầu có thể thay đổi trong một số trường hợp sinh lý: ở trẻ em ngưỡng hồng cầu được cho là cao còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố tuổi và giới tính. Hiện tượng số lượng hồng cầu vượt chuẩn thường xuất hiện ở những người sống ở vùng núi cao hoặc các vận động viên sử dụng doping.

Trường hợp chỉ số RBC tăng

Khi số lượng hồng cầu vượt mức trên hay nói cách khác là chỉ số RBC cao hơn thường xảy ra không nhiều, hồng cầu tăng số lượng có thể dẫn đến cô đặc máu trong trường hợp bị mất nước, nôn nhiều, đi ngoài hay bị bệnh đa hồng cầu thực. Ngoài ra, số lượng hồng cầu tăng còn có thể dẫn đến một số bệnh như gây rối loạn tuần hoàn tim, phổi như bệnh tim bẩm sinh, hẹp động mạch phổi hay tình trạng thiếu oxy. Những người sống ở vùng núi cao hoặc vận động viên sử dụng doping thường có chỉ số hồng cầu tăng so với bình thường.

Trường hợp chỉ số RBC giảm

Trong trường hợp chỉ số RBC giảm so với mức chuẩn có thể là biểu hiện tình trạng thiếu máu, mất máu nguyên nhân do chảy máu tiêu hóa ở dạ dày hoặc tá tràng. Một số chẩn đoán cho thấy tình trạng ít hồng cầu là máu bị thiếu sắt, axit folic hay vitamin B12. Nhiều trường hợp số lượng hồng cầu giảm ho bị hủy hoại bởi các tác động của một nhân tố đồng thời nào đó. Ở phụ nữ mang thai, người già, bệnh nhân bị suy tủy, thấp khớp cấp, thận, ung thư thường có dấu hiệu chỉ số RBC giảm dưới mức chuẩn.

4. Hồng cầu trong máu có chức năng gì?

Hồng cầu chiếm số lượng nhiều nhất, chứa huyết sắc tố (chất làm cho máu có màu đỏ).

Nhiệm vụ của hồng cầu là vận chuyển khí oxy (O2) từ phổi đến các mô, đi khắp mọi nơi trong cơ thể. Dọc đường, hồng cầu tiếp thu chất thải và đem trở lại phổi, nhận lại khí cacbonic (CO2) từ các mô trở về phổi để đào thải.

Màng tế bào hồng cầu có cấu tạo từ các lipid và protein cần thiết cho chức năng sinh lý, đồng thời thông qua hệ tuần hoàn hoạt động trong mạng lưới mao mạch.

Hồng cầu có trong máu giúp vận chuyển các axit béo, axit amin, glucose từ mao ruột non đến các tế bào và các tổ chức trong cơ thể. Máu mang cặn bã của quá trình chuyển hóa đến các cơ quan bài tiết.

Nếu đủ lượng hồng cầu, da và niêm mạc (lưỡi, kết mạc mắt, nướu răng..) sẽ có màu hồng đặc trưng. Ngược lại khi thiếu hồng cầu (thiếu máu, mất máu), máu không cung cấp đủ oxy cho các mô và cơ quan để hoạt động hiệu quả. Người bệnh sẽ có dấu hiệu da và niêm mạc nhợt nhạt, cảm giác mệt mỏi, giảm khả năng lao động, kém tập trung..

5. Các bệnh liên quan đến hồng cầu

Mức hồng cầu bất thường có khả năng là dấu hiệu của tình trạng thiếu máu, mất nước, xuất huyết hoặc các chứng rối loạn khác về hồng huyết cầu. Một số bệnh thường gặp liên quan đến hồng cầu có nguyên nhân chủ yếu là sự thay đổi số lượng hồng cầu trong máu.

  • Hồng cầu tăng: Tăng hồng cầu là tình trạng số lượng các tế bào vận chuyển oxy trong máu, tủy xương hoạt động quá mạnh, tạo ra quá nhiều hồng cầu làm cho máu tăng độ quánh, cô đặc hơn và gây nguy cơ tắc nghẽn máu trong hệ tuần hoàn.
  • Thiếu máu hồng cầu to: Thiếu máu hồng cầu to là tình trạng thiếu máu với các tế bào hồng cầu lớn bất thường. Giống như các loại thiếu máu khác, thiếu máu hồng cầu to có các tế bào hồng cầu với lượng huyết sắc tố (hemoglobin) thấp.
  • Thiếu máu hồng cầu nhỏ: Thiếu máu hồng cầu nhỏ là tình trạng các mô và cơ quan của cơ thể không nhận đủ oxy. Điều này có thể xảy ra do cơ thể không có đủ hồng cầu, hoặc do các tế bào hồng cầu không chứa đủ huyết sắc tố (hemoglobin)
  • Đa hồng cầu nguyên phát: Đa hồng cầu nguyên phát là một loại ung thư máu tiến triển chậm khi quá nhiều tế bào máu được sản xuất bởi tủy xương. Loại ung thư máu này ảnh hưởng đến tất cả các loại tế bào máu nhưng hồng cầu bị ảnh hưởng nhiều nhất. Số lượng các tế bào máu này nếu tăng lên có thể dẫn đến một số biến chứng như tăng nguy cơ đông máu.
  • Hồng cầu lưỡi liềm: Hồng cầu lưỡi liềm, hay còn gọi là thiếu máu hồng cầu hình liềm, là một bệnh thiếu máu di truyền. Hồng cầu lưỡi liềm là tình trạng không có đủ tế bào hồng cầu khỏe mạnh để mang oxy đi khắp cơ thể.

Hồng cầu là thành phần quan trọng trong máu, các bệnh về hồng cầu ảnh hưởng lớn đến sức khỏe con người. Do đó, khi khám sức khỏe định kỳ, bạn hay làm thêm các xét nghiệm máu để phát hiện sớm các bệnh về hồng cầu và có biện pháp chữa trị kịp thời.

Chia sẻ.

Chức năng bình luận đã bị đóng