Giảm bạch cầu là gì? Phương pháp điều trị giảm bạch cầu

0
Cập nhật lần cuối vào

Giảm bạch cầu là hiện tượng tế bào bạch cầu trong máu hạ xuống thấp hơn mức bình thường. Tìm hiểu nguyên nhân và cách điều trị giảm bạch cầu qua bài viết sau.

1. Giảm bạch cầu là gì?

Bạch cầu, hay bạch huyết cầu (nghĩa là “tế bào máu trắng”, còn được gọi là tế bào miễn dịch), là một thành phần của máu. Chúng giúp cho cơ thể chống lại các bệnh truyền nhiễm và các vật thể lạ trong máu. Để hiểu rõ hơn về bạch cầu, bạn có thể xem thông tin chi tiết tại bài “Bạch cầu là gì“.

Chỉ số bạch cầu (WBC – là từ viết tắt của cụm từ White Blood Cell)của người bình thường dao động từ 4.300 – 10.800 tế bào/mm3, tính theo đơn vị quốc tế là 4.3 đến 10.8 x 109 tế bào/l.

Nếu chỉ số bạch cầu của một người dưới mức 4.300 tế bào/mm3 thì được gọi là giảm bạch cầu (bạch cầu thấp). Ngược lại những người có chỉ số bạch cầu trên 10.800 tế bào/mm3 thì gọi là tăng bạch cầu.

Chỉ số cho biết giảm bạch cầu

Chỉ số cho biết giảm bạch cầu

2. Các loại giảm bạch cầu thường gặp và nguyên nhân gây ra

Giảm bạch cầu có hạt:

Giảm bạch cầu trung tính: Bạch cầu trung tính có chức năng quan trọng là thực bào. Chúng sẽ tấn công và “ăn” các vi khuẩn ngay khi các sinh vật này xâm nhập cơ thể do đó thường tăng trong nhiễm trùng cấp. Chỉ số bình thường của bạch cầu trung tính là 1700 – 7000 tế bào/mm3, dưới mức 1700 tế bào/ mm3 là hiện tượng giảm bạch cầu trung tính.

Giảm bạch cầu trung tính trong trường hợp bạn thiếu máu bất sản (do rối loạn chức năng tủy xương), dùng các thuốc ức chế miễn dịch, nhiễm độc kim loại nặng…

Giảm bạch cầu ái toan (bạch cầu ưa acid): Có tác dụng chống ký sinh trùng. Chỉ số bình thường của bạch cầu ái toan là: 50 – 500 tế bào/mm3. Dưới mức 50 tế bào/ mm3 được gọi là giảm bạch cầu ái toan. Giảm bạch cầu ái toan là do sử dụng corticosteroid.

Giảm bạch cầu ái kiềm (bạch cầu ưa bazơ): Có vai trò quan trọng trong các phản ứng dị ứng. Chỉ số bình thường của bạch cầu ái kiềm là 10 – 50 tế bào/mm3. Khi chỉ số này dưới 10 tế bào/mm3 thì được coi là giảm bạch cầu ái kiềm.

Giảm bạch cầu không hạt:

Giảm bạch cầu lympho: Lymphocyte là các tế bào có khả năng miễn dịch, gồm lympho T và lympho B. Chỉ số bình thường của bạch cầu lympho là: 1000 – 4000 tế bào/mm3, dưới mức này thì là giảm bạch cầu lympho.

Bạch cầu Lympho giảm trong trường hợp bạn nhiễm HIV/AIDS, lao, ung thư, thương hàn nặng, sốt rét, sốt xuất huyết…

Giảm bạch cầu mono:  Bạch cầu mono có tác dụng dọn sạch các vùng mô tổn thương, giúp khởi động quá trình sản xuất kháng thể của bạch cầu lympho B. Chỉ số bình thường của bạch cầu mono là: 100 – 1000 tế bào/mm3. Nếu chỉ số dưới 100 tế bào/mm3 thì là giảm bạch cầu mono.

3. Cách phát hiện bạch cầu giảm

Khi bị giảm bạch cầu, sức đề kháng của cơ thể sẽ yếu hơn và dễ bị lây nhiễm, nhiễm trùng hơn. Các triệu chứng khi bị nhiễm trùng là:

  • Sốt
  • Ra mồ hôi
  • Thấy ớn lạnh

Tuy nhiên những triệu chứng trên cũng không rõ ràng, dễ nhầm lẫn với những triệu chứng khác. Muốn biết chính xác bạch cầu của mình có bị giảm hay không thì bạn cần phải đến các bệnh viện để tiến hành xét nghiệm máu.

Để đảm bảo kết quả xét nghiệm chuẩn xác thì bạn cần nhịn ăn trước đó từ 8 – 12 tiếng, không sử dụng các chất kích thích (rượu, bia, thuốc lá…), không nên uống bất cứ loại thuốc nào. Trường hợp bạn lỡ uống thuốc nào đó trước khi làm xét nghiệm thì hãy thông báo với bác sĩ để bác sĩ đưa ra hướng xử trí phù hợp, lý do bởi không phải loại thuốc nào cũng ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm.

4. Giảm bạch cầu có nguy hiểm không?

Thực tế giảm bạch cầu có nguy hiểm không xuất phát từ nguyên nhân gây ra tình trạng này. Nếu trường hợp bạch cầu giảm do tinh thần căng thẳng, chế độ dinh dưỡng thiếu cân bằng thì  sẽ không nguy hiểm.

Ngược lại trong trường hợp bạch cầu giảm do nhiễm virus HIV, lao, ung thư, thương hàn nặng… thì rất nguy hiểm. Bạn cần phải có liệu pháp điều trị để có thể kiểm soát số lượng bạch cầu trong máu, kéo dài tuổi thọ.

5. Các phương pháp điều trị giảm bạch cầu

Trường hợp giảm bạch cầu nhẹ có thể không cần điều trị mà chỉ cần chú ý nghỉ ngơi giảm căng thẳng và bồi bổ dinh dưỡng.  Chế độ dinh dưỡng cân đối, khoa học sẽ giúp bạch cầu tăng và duy trì ở mức ổn định. Bạn có thể tham khảo chi tiết hơn trong bài Ăn gì để tăng bạch cầu.

Trường hợp giảm bạch cầu nặng hơn thì dựa vào nguyên nhân để điều trị:

  • Nếu giảm bạch cầu do dùng thuốc ức chế miễn dịch: sirolimus, mycophenolate mofetil, tacrolimus, ciclosporin, leflunomide và TNF inhibitors (ngăn chặn thải ghép nội tạng như: thận, gan, tim…) hay do sử dụng thuốc corticosteroid (thuốc kháng viêm) thì bạn cần tạm dừng dùng thuốc hoặc thay thế loại thuốc đang sử dụng. Cần nhớ là chỉ thay thuốc khi có sự chỉ định của bác sĩ, tuân thủ đúng liều lượng và thời gian sử dụng thuốc.
  • Nếu bạch cầu giảm do nhiễm khuẩn thì cần phải điều trị bằng thuốc kháng sinh. Thuốc được kê đơn theo chỉ định của bác sĩ.
  • Trường hợp bạch cầu giảm do tổn thương tủy xương, các vấn đề thường gặp liên quan đến tủy xương thì biện pháp điều trị là cấy ghép tế bào gốc hoặc kích thích tế bào tủy xương sản xuất nhiều tế bào máu trắng hơn.

Những chú ý trong quá trình điều trị giảm bạch cầu:

  • Duy trì vệ sinh răng miệng tốt. Khám răng thường xuyên và sử dụng nước súc miệng kháng khuẩn
  • Tiêm vắc-xin đầy đủ
  • Cần đến cơ sở y tế nếu bị sốt trên 38,5°C
  • Rửa tay thật kỹ với xà phòng để ngăn ngừa nhiễm khuẩn
  • Xử lý cẩn thận vết cắt và trầy xước
  • Sử dụng thuốc kháng sinh và kháng nấm theo chỉ dẫn của bác sĩ
  • Tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi du lịch nước ngoài.

Tóm lại, khi phát hiện mình bị giảm bạch cầu thì bạn cần tiến hành thay đổi chế độ ăn uống, nghỉ ngơi và tuân thủ theo phác đồ điều trị của bác sĩ để cải thiện sức khỏe.

Chia sẻ.

Gửi một câu trả lời