Bệnh tăng tiểu cầu – dấu hiệu, nguyên nhân và cách điều trị

0
Cập nhật lần cuối vào

Tăng tiểu cầu trong một số trường hợp có thể hình thành cục máu đông trong não gây đột quỵ, đe dọa tính mạng con người. Tìm hiểu cách điều trị căn bệnh này qua bài viết sau.

1. Bệnh tăng tiểu cầu là gì?

Tiểu cầu là các tế bào máu trong huyết tương, có tác dụng làm ngừng chảy máu bằng cách dính vào nhau để tạo thành cục máu đông. Tăng tiểu cầu là tình trạng số lượng tiểu cầu trong máu tăng cao hơn ngưỡng bình thường.

Số lượng tiểu cầu bình thường dao động từ 150.000 đến 450.000 trên một microlit máu. Nếu lượng tiểu cầu trên 500.000/ microlit máu thì được coi là tăng tiểu cầu. Lượng tiểu cầu trong cơ thể dưới 150.000/ microlit máu được gọi là giảm tiểu cầu.

Có hai loại tăng tiểu cầu: tăng tiểu cầu nguyên phát và tăng tiểu cầu thứ phát.

Tăng tiểu cầu nguyên phát: Còn được gọi là tăng tiểu cầu cơ bản (hoặc ET) là một căn bệnh trong đó các tế bào bất thường của tủy xương gây ra tăng tiểu cầu. Nguyên nhân gây ra tình trạng này chưa được biết. Bệnh không được coi là một tình trạng di truyền (gia đình) mặc dù phát hiện một số đột biến gen trong máu hoặc tủy xương.

Tăng tiểu cầu thứ phát: Là một tình trạng sức khỏe khác mà bệnh nhân có thể mắc phải như:

  • Thiếu máu do thiếu sắt
  • Ung thư
  • Viêm hoặc nhiễm trùng
  • Phẫu thuật, đặc biệt là cắt lách

2. Các dấu hiệu nhận biết của bệnh tăng tiểu cầu

Các triệu chứng thường gặp của tăng tiểu cầu là:

  • Nhức đầu
  • Chóng mặt hoặc choáng váng
  • Đau ngực
  • Yếu
  • Ngất
  • Thay đổi thị lực
  • Tê hoặc ngứa ran bàn tay và bàn chân

4. Các nguyên nhân gây ra bệnh tăng tiểu cầu

Tủy xương là mô xốp bên trong xương chứa các tế bào gốc, có thể phát triển thành tế bào hồng cầu, bạch huyết cầu hoặc tiểu cầu. Các tiểu cầu dính lại với nhau làm máu hình thành cục máu đông giúp ngừng chảy máu khi mạch máu tổn thương như khi bị cắt.

Nếu bạn bị tăng tiểu cầu do rối loạn tủy xương (tăng tiểu cầu nguyên phát), tủy xương sẽ sản xuất quá mức các tế bào hình thành tiểu cầu (megakaryocytes) và giải phóng quá nhiều tiểu cầu vào trong máu. Trong tăng tiểu cầu nguyên phát, nguy cơ đông máu hoặc biến chứng chảy máu cao. Do đó, nếu kết quả xét nghiệm máu cho thấy số lượng tiểu cầu cao, bác sĩ phải xác định xem đó là tăng tiểu cầu nguyên phát hay tăng tiểu cầu thứ phát:

Các nguyên nhân gây tăng tiểu cầu thứ phát bao gồm:

  • Xuất huyết cấp tính và mất máu
  • Phản ứng dị ứng
  • Ung thư
  • Suy thận mạn hoặc rối loạn thận khác
  • Tập thể dục
  • Đau tim
  • Phẫu thuật bắc cầu động mạch vành
  • Nhiễm trùng, bao gồm bệnh lao
  • Thiếu sắt
  • Thiếu vitamin
  • Cắt lách
  • Thiếu máu tán huyết – một loại thiếu máu mà cơ thể phá hủy các tế bào hồng cầu nhanh hơn so với việc sản xuất ra chúng, thường do một số bệnh về máu hoặc rối loạn tự miễn dịch
  • Viêm như viêm khớp dạng thấp, bệnh celiac, rối loạn mô liên kết hoặc bệnh viêm đường ruột
  • Các phẫu thuật lớn
  • Viêm tụy
  • Chấn thương
  • Bỏng
  • Tập thể dục

Các loại thuốc có thể gây tăng tiểu cầu thứ phát bao gồm:

  • Epinephrine (AUVI-Q, EpiPen, những biệt dược khác)
  • Tretinoin (Retin-A, Renova, những biệt dược khác)
  • Vincristine Sulfate (Marqibo Kit)
  • Heparin sodium

5. Tăng tiểu cầu có nguy hiểm không?

Nguy hiểm lớn nhất của tăng tiểu cầu là hình thành cục máu đông ở các vị trí khác nhau, nếu ở não có thể gây đột quỵ trong những trường hợp nghiêm trọng. Ngoài ra, quá nhiều tiểu cầu có thể dẫn đến tình trạng đau tim hoặc cục máu đông trong mạch máu.

6. Chẩn đoán tăng tiểu cầu bằng cách nào?

Xét nghiệm máu là biện pháp phổ biến thường được sử dụng để chẩn đoán tăng tiểu cầu.

Các bác sĩ sẽ xét nghiệm, kiểm tra máu bằng kính hiển vi để xác định ra các thành phần của tiểu cầu, xét nghiệm kiểm tra hàm lượng sắt trong máu, xét nghiệm lâm sàng để kiểm tra tình trạng to lách hay viêm nhiễm trong cơ thể; xét nghiệm sinh khiết hoặc gen tủy xương để xác định bệnh lý tủy xương mắc phải…
Khi xác định bệnh nhân mắc bệnh tăng tiểu cầu, cần xác định rõ đó là tăng tiểu cầu nguyên phát hay tăng tiểu cầu thứ phát.

7. Cách điều trị bệnh tăng tiểu cầu

Điều trị tăng tiểu cầu nguyên phát

Một số bệnh nhân tăng tiểu cầu nguyên phát có thể cần phải dùng đến thuốc hoặc thủ thuật y tế để giảm thiểu số lượng tiểu cầu của họ.

Thuốc làm giảm số lượng tiểu cầu:

Chỉ dùng thuốc để giảm số lượng tiểu cầu khi có tiền sử huyết khối hoặc chảy máu; có các yếu tố nguy cơ (như tăng cholesterol máu, tăng huyết áp, đái tháo đường); ngoài 60 tuổi; số lượng tiểu cầu >1 triệu. Các thuốc này phải được dùng suốt đời.

  • Hydroxyurea: Đây là thuốc hạ tiểu cầu phổ biến nhất để điều trị tăng tiểu cầu nguyên phát. Hydroxyurea được dùng để điều trị ung thư và một số bệnh nguy hiểm khác. Nó thường được các bác sĩ chuyên khoa ung thư, huyết học sử dụng. Bệnh nhân dùng hydroxyurea cần được giám sát chặt chẽ. Hiện nay, aspirin kết hợp với hydroxyurea là điều trị tiêu chuẩn cho những người tăng tiểu cầu nguyên phát và có nguy cơ cục máu đông cao.
  • Nagrelide: Thuốc này đã được sử dụng để điều trị tăng tiểu cầu nguyên phát. Tuy nhiên, nó có vẻ ít hiệu quả hơn hydroxyurea. Anagrelide gây các tác dụng phụ như giữ nước, hồi hộp, loạn nhịp tim, suy tim và nhức đầu.
  • Interferon alfa: Thuốc này có hiệu quả làm giảm tiểu cầu. Tuy nhiên, 20% bệnh nhân không thể chịu đựng được các tác dụng phụ của nó: cảm giác giống cúm, chán ăn, buồn nôn (cảm giác đau dạ dày), tiêu chảy, động kinh, khó chịu và buồn ngủ. Có thể dùng thuốc này cho phụ nữ mang thai có tăng tiểu cầu nguyên phát vì nó an toàn cho thai nhi hơn so với hydroxyurea và anagrelide.

Lọc bỏ tiểu cầu (Plateletpheresis): Lọc bỏ tiểu cầu (Plateletpheresis) là một thủ thuật dùng để nhanh chóng giảm số lượng tiểu cầu trong máu. Thủ thuật này chỉ được thực hiện trong trường hợp khẩn cấp như đang bị đột quỵ do tăng tiểu cầu nguyên phát. Dùng kim tĩnh mạch nối với ống tiêm vào một trong các mạch máu của bệnh nhân để rút máu. Máu di chuyển qua một máy để loại bỏ tiểu cầu. Sau đó máu được đưa trở về cơ thể bệnh nhân qua một đường truyền tĩnh mạch khác. Thực hiện thủ thuật một hoặc hai lần là đủ để giảm số lượng tiểu cầu về mức độ an toàn.

Điều trị tăng tiểu cầu thứ phát

  • Tăng tiểu cầu thứ phát được xử lý bằng cách giải quyết những bệnh lý tiềm ẩn gây ra nó. Các bệnh nhân này thường không cần dùng đến thuốc men hoặc thủ thuật để giảm tiểu cầu.
  • Tiểu cầu của họ nhìn chung là bình thường (khác với trường hợp tăng tiểu cầu nguyên phát). Ngoài ra, số lượng tiểu cầu của họ thường không đủ cao để gây nguy cơ cục máu đông hay chảy máu.
  • Không thể ngăn chặn được tăng tiểu cầu nguyên phát. Tuy nhiên, vẫn có thể thực hiện được các bước để giảm nguy cơ đông máu và ngăn ngừa các vấn đề liên quan.
  • Tuổi tác, tiền sử cục máu đông, đái tháo đường, tăng huyết áp, tăng cholesterol máu và hút thuốc lá là tất cả các yếu tố nguy cơ của huyết khối. Để giảm tác hại, nên ngưng hút thuốc và kiểm soát các yếu tố nguy cơ khác.
  • Không phải lúc nào cũng ngăn chặn được các yếu tố dẫn đến tăng tiểu cầu thứ phát. Tuy nhiên, nếu thường xuyên được chăm sóc y tế, có thể sẽ sớm phát hiện những tác nhân này trước khi xuất hiện tình trạng tăng tiểu cầu.

Những lưu ý trong quá trình điều trị tăng tiểu cầu

Nếu bị tăng tiểu cầu nguyên hay thứ phát, cần chú ý đến những điều quan trọng sau đây:

  • Đi khám bệnh thường xuyên khoảng 6 tháng/ lần.
  • Chú ý đến vấn đề ăn uống: Người bị tăng tiểu cầu nên ăn các đồ tươi như rau tươi, hoa quả tươi… không nên sử dụng đồ ăn, thức uống đông lạnh.

Nên giảm ăn các loại lúa mì trắng, gạo trắng và các sản phẩm thực phẩm đã qua tinh chế. Để giữ mức tiểu cầu ổn định, bạn cũng phải thường xuyên bổ xung các loại vitamin A, vitamin C, vitamin B12, các loại khoáng chất cho cơ thể.

  • Ngưng hút thuốc lá và kiểm soát các yếu tố nguy cơ hình thành cục máu đông như tăng huyết áp, đái tháo đường, tăng cholesterol trong máu…
  • Theo dõi những dấu chứng của huyết khối và chảy máu và báo cáo ngay cho bác sĩ.
  • Dùng các loại thuốc men theo quy định:

Nếu đang dùng thuốc để giảm số lượng tiểu cầu, cần thông báo cho bác sĩ hoặc nha sĩ biết trước khi thực hiện bất kì thủ thuật, phẫu thuật hoặc can thiệp nha khoa nào. Những loại thuốc làm “loãng” máu có thể làm tăng chảy máu khi thực hiện các thủ thuật đó và  gây xuất huyết nội. Dấu hiệu của xuất huyết nội bao gồm các vết bầm tím, máu hoặc phân đen như hắc ín, nước tiểu màu hồng hoặc có máu, tăng chảy máu kinh nguyệt, chảy máu nướu răng và chảy máu cam.

Tránh dùng các thuốc giảm đau bán tự do như ibuprofen (ngoại trừ paracetamol). Các loại thuốc này có thể làm tăng nguy cơ xuất huyết tiêu hoá nhưng lại hạn chế tác dụng của aspirin.

Cần nhận biết rằng những thuốc điều trị cảm lạnh, thuốc giảm đau và một số thuốc khác được bán không cần toa bác sĩ có thể chứa ibuprofen.

 Bài viết đã cung cấp rất nhiều thông tin hữu ích đến bạn đọc. Mỗi người cần trang bị kiến thức tốt, lối sống lành mạnh để có thể bảo vệ sức khỏe của bản thân.

Chia sẻ.

Chức năng bình luận đã bị đóng