Trầm cảm ở tuổi dậy thì nguy hiểm như thế nào?

0
Cập nhật lần cuối vào

Số lượng người trẻ trong độ tuổi dậy thì bị trầm cảm ngày càng tăng cao trong xã hội. Căn bệnh này có thể gây ra những hệ lụy nguy hiểm nếu không sớm có giải pháp khắc phục kịp thời.

1. Trầm cảm tuổi dậy thì là gì?

Bệnh trầm cảm ở tuổi dậy thì được coi là một trong nhóm bệnh rối loạn tâm thần gây ra cho người bệnh cảm giác lo âu, buồn bã, chán nản hay không còn hứng thú với mọi việc trong cuộc sống.

Nguyên nhân chính của căn bệnh này thường xuất phát khi trẻ nhận quá nhiều áp lực xung quanh: Bố mẹ, thầy cô, bạn bè, việc học hành, chuyện tình cảm, sự thay đổi ở cơ thể hay sử dụng các chất gây nghiện quá nhiều.

Trầm cảm tuổi dậy thì là bệnh lý rất nguy hiểm

Trầm cảm tuổi dậy thì là bệnh lý rất nguy hiểm

2. Dấu hiệu nhận biết trầm cảm tuổi dậy thì

Các dấu hiệu trầm cảm ở tuổi dậy thì có thể bao gồm những thay đổi về thái độ và cách ứng xử gây ra nhiều mâu thuẫn ở nhà, ở trường học cùng các hoạt động xã hội khác.

Những dấu hiệu về cảm xúc

Trẻ bị trầm cảm ở tuổi dậy thì có thể xuất hiện các dấu hiệu về cảm xúc:

  • Thiếu tự tin về bản thân
  • Cảm giác vô dụng hoặc tội lỗi
  • Cảm thấy tuyệt vọng hoặc trống rỗng
  • Tâm trạng cáu kỉnh hoặc khó chịu
  • Thờ ơ hoặc dễ xung đột với gia đình và bạn bè
  • Thất vọng hoặc tức giận, thậm chí chỉ vì những vấn đề nhỏ
  • Cảm giác buồn bã khiến trẻ la hét, khóc lóc mà không rõ lý do
  • Mất hứng thú hoặc niềm vui trong các hoạt động thông thường
  • Luôn có cảm giác rằng cuộc sống và tương lai thật nghiệt ngã và ảm đạm
  • Gặp khó khăn khi suy nghĩ, tập trung, đưa ra quyết định và ghi nhớ mọi thứ
  • Cực kỳ nhạy cảm với sự từ chối hoặc thất bại và kỳ vọng được an ủi nhiều hơn
  • Sửa lỗi về những sai lầm trong quá khứ hoặc tự trách bản thân hoặc tự phê bình thái quá
  • Thường xuyên có ý nghĩ tự tử hoặc nghĩ về chết chóc

Những dấu hiệu về hành vi:

  • Cách ly xã hội
  • Mệt mỏi và uể oải
  • Sử dụng rượu hoặc ma túy
  • Mất ngủ hoặc ngủ quá nhiều
  • Lên kế hoạch tự tử hoặc cố gắng tự tử
  • Ít chú ý đến vệ sinh cá nhân hoặc ngoại hình
  • Thành tích học tập kém hoặc nghỉ học thường xuyên
  • Chậm chạp khi suy nghĩ, nói hoặc chuyển động cơ thể
  • Tự làm tổn thương mình như cắt tay, xỏ tai hoặc xăm mình
  • Kích động hoặc bồn chồn đi qua lại, vặn tay hoặc không thể ngồi yên
  • Thay đổi khẩu vị như cảm giác chán ăn và giảm cân, hoặc tăng cảm giác thèm ăn và tăng cân
  • Những cơn giận dữ bùng phát, hành vi gây rối hoặc mạo hiểm hoặc các hành vi bốc đồng khác
  • Thường xuyên than phiền về đau nhức cơ thể không giải thích được, thường xuyên đến phòng y tế.

3. Nguyên nhân trầm cảm ở tuổi dậy thì?

Theo Mayo Clinic (một trung tâm y tế học thuật phi lợi nhuận của Mỹ), dưới đây là một số nguyên nhân gây trầm cảm ở tuổi dậy thì:

Hóa chất trong não bộ: Chất dẫn truyền thần kinh là chất hóa học nội sinh xuất hiện tự nhiên mang tín hiệu đến các bộ phận khác trong não và cơ thể. Khi các hóa chất này bất thường hoặc suy yếu, chức năng của các thụ thể thần kinh và hệ thống thần kinh thay đổi có thể dẫn đến trầm cảm.

Hormone mất cân bằng: Tình trạng mất cân bằng hormone có thể liên quan đến khả năng gây ra trầm cảm.

Di truyền gia đình: Trầm cảm phổ biến hơn ở những người có cùng huyết thống. Chẳng hạn như cha mẹ hoặc ông bà bị trầm cảm thì con cháu cũng sẽ dễ mắc bệnh tâm lý này.

Những tổn thương tinh thần trong quá khứ: Các ký ức tổn thương trong thời thơ ấu, chẳng hạn như lạm dụng thể chất hoặc tinh thần, mất cha mẹ, có thể gây ra những thay đổi trong não khiến trẻ dễ bị trầm cảm.

Suy nghĩ tiêu cực: Trầm cảm tuổi dậy thì có thể được liên kết với cách suy nghĩ mình bất lực thay vì tìm giải pháp cho những thách thức của cuộc sống.

Nhiều yếu tố có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh trầm cảm ở tuổi dậy thì bao gồm:

  • Lạm dụng rượu, nicotine hoặc các loại chất gây nghiện khác
  • Bị khuyết tật học tập hoặc rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD)
  • Bị đau liên tục hoặc bị bệnh mãn tính như ung thư, tiểu đường hoặc hen suyễn
  • Đã từng là nạn nhân hoặc nhân chứng của bạo lực, chẳng hạn như lạm dụng thể chất hoặc tình dục.
  • Đồng tính nam, đồng tính nữ, lưỡng tính hoặc chuyển giới trong một môi trường bị kì thị.
  • Có những đặc điểm tính cách nhất định, chẳng hạn như tự ti hoặc bị phụ thuộc quá mức, tự phê bình hoặc bi quan.
  • Có những vấn đề ảnh hưởng tiêu cực đến lòng tự tin: béo phì, khiếm khuyết ngoại hình…
  • Gặp một số vấn đề về tình trạng sức khỏe tâm thần khác, chẳng hạn như rối loạn lưỡng cực, rối loạn lo âu, rối loạn nhân cách, chán ăn hoặc chứng cuồng ăn.

Lịch sử gia đình và các vấn đề với gia đình hoặc người khác cũng có thể làm tăng nguy cơ trầm cảm ở trẻ dậy thì, chẳng hạn như:

  • Có mâu thuẫn gia đình
  • Có một thành viên gia đình đã mất vì tự tử.
  • Có cha mẹ, ông bà hoặc người có quan hệ huyết thống khác bị trầm cảm, rối loạn lưỡng cực hoặc nghiện rượu.
  • Trải qua những sự kiện căng thẳng trong cuộc sống gần đây, chẳng hạn như ly hôn của cha mẹ hoặc nỗi đau mất đi người thân.

4. Trầm cảm ở tuổi dậy thì nguy hiểm như thế nào?

Suy nghĩ lệch lạc

Nếu để trẻ bị trầm cảm quá lâu và không có sự can thiệp kịp thời sẽ dẫn tới có thể mắc bệnh tâm thần. Trẻ sẽ thường có suy nghĩ lệch lạc về cách ứng xử với mọi người xung quanh hay bị lệch lạc về giới tính. Lúc này phụ huynh cần đưa trẻ thực hiện khám chuyên khoa tâm lý tại các trung tâm y tế.

Học tập sa sút

Hệ lụy của bệnh trầm cảm ở tuổi dậy thì ảnh hưởng nhất tới kết quả học tập. Việc học tập sẽ không còn hứng thú với trẻ, lười học, học không tập trung và kết quả giảm sút. Kèm theo đó trẻ sẽ tỏ ra mệt mỏi và chán nản nếu ép trẻ ngồi vào bàn học.

Sợ giao tiếp

Trẻ thường ngại và sợ giao tiếp với bạn bè và thầy cô. Trong một số trường hợp bệnh nặng hơn, trẻ sẽ không chịu nói chuyện và sống khép mình lại kể cả với ông bà, cha mẹ, anh chị em trong nhà.

Phát sinh tệ nạn xã hội

Đa số trẻ vì quá âu lo, buồn phiền khi chịu áp lực từ nhiều phía sẽ thường tìm tới rượu bia hoặc các chất gây nghiện như ma túy đá, cần sa…

Dễ bị sa ngã bởi cám dỗ, kẻ xấu

Ở những trẻ bị mắc bệnh trầm cảm thường có tâm lý nhẹ dạ, cả tin theo lời của những đối tượng xấu. Các đối tượng này thường dụ dỗ trẻ làm những điều sai trái vi phạm quy chuẩn đạo đức hay vi phạm pháp luật, như ăn trộm, ăn cắp, hút chích ma túy hay nặng hơn là thực hiện các việc đồi trụy.

Tâm lý không ổn định

Tâm lý trẻ không ổn định, luôn cảm thấy buồn bã, trống vắng, không cảm xúc với bất kỳ điều gì và có lúc trẻ sẽ khóc hay ngồi cười một mình.

Tự tử

Bệnh trầm cảm sẽ ở mức độ nặng nhất nếu trẻ thường xuyên kể những câu chuyện liên quan tới cái chết. Có rất nhiều trẻ do phụ huynh và người thân không phát hiện để điều trị và chăm sóc kịp thời, nên đã dẫn tới tình trạng tự tử vô cùng đáng tiếc.

5. Trầm cảm ở tuổi dậy thì có chữa được không?

Bệnh trầm cảm có thể điều trị được thông qua việc sử dụng thuốc, điều trị tâm lý và sự quan tâm chăm sóc của gia đình và bạn bè xung quanh.

Y học hiện đại đã tìm ra nhiều loại thuốc chống trầm cảm, sử dụng đúng liều lượng, dưới sự hướng dẫn của bác sĩ, tỷ lệ chữa khỏi bệnh trầm cảm là rất cao.

Bạn có thể tham khảo một số liệu pháp điều trị trầm cảm ở tuổi dậy thì trong phần tiếp theo.

6. Cách điều trị trầm cảm ở tuổi dậy thì

Tùy thuộc vào mức độ trầm cảm, các hành vi, biểu hiện của bệnh nhân mà có cách điều trị khác nhau. Trong đó, hai phương pháp thông dụng là dùng thuốc và liệu pháp tâm lý.

Dùng thuốc

Điều trị trầm cảm bằng thuốc

Điều trị trầm cảm bằng thuốc

Các thuốc được dùng là thuốc chống trầm cảm. Một số thuốc phổ biến như escitalopram, paroxetine, sertraline, fluoxetine và citalopram. Đây là các chất ức chế serotonin có chọn lọc (SSRI). Các loại thuốc khác là venlafaxine, duloxeton và bupropion. Các loại thuốc chống trầm cảm này có thể có các tác dụng phụ như:

  • Đau đầu, buồn nôn
  • Khó ngủ và căng thẳng
  • Kích động hoặc bồn chồn
  • Gây ra các vấn đề về tình dục.

Bạn phải hết sức lưu ý khi sử dụng thuốc chống trầm cảm vì thuốc có thể khiến người dùng (đặc biệt là trẻ em, thanh thiếu niên và những bệnh nhân đang bị kích động) có ý nghĩ tự tử hoặc cố tự tự trước khi thuốc thực sự có tác dụng.

Một số thuốc giúp làm tăng giấc ngủ và cảm giác thèm ăn có thể được kê toa cho những bệnh nhân mắc các triệu chứng liên quan, nhưng thường phải mất khoảng 2-3 tuần trước khi các thuốc này có tác dụng.

Liệu pháp trị liệu tâm lý

Trị liệu tâm lý hay tư vấn tâm lý là phương pháp điều trị trầm cảm bằng cách nói chuyện. Các loại trị liệu tâm lý phù hợp với chứng trầm cảm là liệu pháp hành vi nhận thức hoặc liệu pháp cá nhân.

Trị liệu tâm lý có thể gồm 2 người, bác sĩ và bệnh nhân hoặc với người thân trong gia đình hay trong một nhóm nhỏ. Thông qua các buổi trị liệu, con bạn có thể:

  • Tìm hiểu được nguyên nhân gây ra trầm cảm
  • Học cách xác định và thay đổi các hành vi hoặc suy nghĩ không lành mạnh
  • Khám phá các mối quan hệ và những trải nghiệm
  • Tìm ra cách để đối mặt và giải quyết vấn đề
  • Đặt ra các mục tiêu thực tế
  • Tìm lại cảm giác hạnh phúc và kiểm soát
  • Giúp giảm bớt các triệu chứng trầm cảm như cảm thấy thất vọng và giận dữ
  • Điều chỉnh tâm lý cho một khủng hoảng hoặc các khó khăn hiện có khác

Nhập viện và các chương trình điều trị khác

Khi bệnh trầm cảm trở nên nghiêm trọng, trẻ có hành vi tự làm đau mình hoặc tấn công người khác thì cần phải nhập viện. Điều trị tâm lý hàng ngày ở bệnh viện sẽ giúp trẻ bình tâm hơn và kiểm soát bệnh tốt hơn.

Trầm cảm nặng có thể dẫn đến tử vong, do đó không nên xem thường căn bệnh này. Khi thấy con có những dấu hiệu trầm cảm cần đưa đến gặp bác sĩ chuyên khoa càng sớm càng tốt để được tư vấn và hỗ trợ điều trị kịp thời.

Chia sẻ.

Chức năng bình luận đã bị đóng